Bài 33 · Thị trường BĐS

Giá rao – giá thỏa thuận – giá giao dịch: đừng nhầm lẫn

Một căn nhà được đăng 6 tỷ, người mua trả 5,4 tỷ, hai bên thống nhất 5,6 tỷ. Vậy “giá của căn nhà” là bao nhiêu? Câu trả lời phụ thuộc bạn đang nói về giá rao, giá thỏa thuận hay giá giao dịch. Nhầm ba loại này là một trong những lỗi phổ biến nhất khi đọc thị trường BĐS.

Biên soạn: ThS. Nguyễn Mạnh Hùng
Đơn vị: GV. Khoa QLĐĐ&BĐS – ĐH Nông Lâm TP.HCM
Email: nguyenmanhhung@hcmuaf.edu.vn

Quy tắc dữ liệu: Tên gọi “giá giao dịch” chỉ nên dùng khi nguồn dữ liệu xác định rõ giao dịch đã đạt trạng thái nào: ký hợp đồng, công chứng, đăng ký, thanh toán hay ghi nhận bởi hệ thống nào. Không được tự đổi một mức “đã chốt miệng” thành giá giao dịch nếu tập dữ liệu chưa xác nhận.

1. Giá rao – giá chào bán

Giá rao là mức người bán/chủ đầu tư/môi giới công bố khi chào tài sản ra thị trường.

Nó phản ánh:

  • kỳ vọng của người bán;
  • chiến lược tiếp thị;
  • mức neo thương lượng;
  • thông tin mà người bán đang có.

Giá rao chưa chứng minh có người mua sẵn sàng trả mức đó.

2. Giá rao có thể cao hơn mức người bán thực sự chấp nhận

người bán có thể chủ động để “biên độ” thương lượng.

Ví dụ giả lập:

  • giá rao: 6 tỷ;
  • mức người bán thực sự chấp nhận: 5,6 tỷ.

Khoảng 400 triệu là bargaining margin.

3. Nhưng giá rao cũng có thể thấp để thu hút khách

Một tin đăng thấp có thể nhằm:

  • tạo lead;
  • đẩy cạnh tranh;
  • bán nhanh;
  • quảng cáo mức “từ”.

Vì vậy không nên mặc định giá chào bán luôn cao hơn giao dịch.

4. Giá chào của chủ đầu tư có thể đi kèm các ưu đãi

Một căn hộ niêm yết 5 tỷ nhưng có:

  • chiết khấu thanh toán nhanh;
  • hỗ trợ lãi suất;
  • tặng nội thất;
  • miễn phí dịch vụ;
  • rebate.

giá niêm yết 5 tỷ chưa phản ánh đầy đủ giá hiệu dụng.

5. Giá người mua trả – giá đề nghị

người mua có thể đưa ra một đề nghị mua:

  • 5,2 tỷ;
  • kèm điều kiện thanh toán;
  • thời gian giao nhà;
  • điều kiện kiểm tra pháp lý.

đề nghị mua chưa phải giá thỏa thuận nếu người bán chưa chấp nhận.

6. Giá thỏa thuận – giá thỏa thuận

Đây là mức hai bên thống nhất trong thương lượng.

Nhưng vẫn cần biết:

  • thỏa thuận có điều kiện không;
  • đã ký đặt cọc chưa;
  • giao dịch có thể hủy không;
  • có khoản thanh toán ngoài giá chính/ưu đãi không.

Nếu giao dịch không hoàn tất, mức giá đã thỏa thuận vẫn không phải giao dịch thực tế đã hoàn tất cuối cùng.

7. Giá giao dịch – giá giao dịch

Trong nghiên cứu thị trường, giá giao dịch nên là mức giá được ghi nhận cho một giao dịch đã hoàn thành theo định nghĩa tập dữ liệu.

Ví dụ:

  • giá hợp đồng;
  • giá công chứng;
  • giá đăng ký;
  • giá recorded bán.

Phải ghi rõ nguồn.

8. tỷ lệ giá bán so với giá niêm yết

Một chỉ báo:

tỷ lệ giá bán so với giá niêm yết = Giá giao dịch / Giá rao gần nhất.

Dữ liệu giả lập phục vụ minh họa.

  • giá chào bán cuối: 6 tỷ;
  • giao dịch: 5,7 tỷ;

→ tỷ lệ = 95%.

mức giảm so với giá niêm yết ≈ 5%.

9. Cẩn thận: “giá rao gần nhất” khác “giá rao ban đầu”

tin đăng có thể:

  • ban đầu 6,5 tỷ;
  • giảm xuống 6,2;
  • giảm tiếp 6,0;
  • bán 5,7.

Nếu dùng giá niêm yết ban đầu → mức giảm giá 12,3%.

Nếu dùng final list → 5%.

Hai chỉ số trả lời câu hỏi khác nhau.

10. Days on thị trường phải đi cùng lịch sử giá

Một BĐS ở thị trường 180 ngày có thể:

  • giữ giá 6,5 tỷ suốt 170 ngày;
  • sau đó giảm mạnh và bán.

thời gian chào bán (time on market) một mình không kể toàn bộ câu chuyện.

11. tin đăng trùng làm giá rao sai lệch

Một căn có thể được 10 môi giới đăng với:

  • 10 mức giá khác nhau;
  • 10 mô tả khác nhau.

Nếu coi là 10 căn:

  • nguồn cung bị phóng đại;
  • bình quân giá chào bán bị sai;
  • phân bố giá méo.

12. tin đăng cũ chưa xóa tạo “hàng tồn ảo”

Tài sản đã bán nhưng tin vẫn còn online.

Nếu crawler thu thập:

  • có thể tưởng hàng vẫn tồn;
  • thời gian rao bị kéo dài;
  • giá cũ lẫn vào thị trường hiện tại.

13. Giá rao hữu ích ở đâu?

Giá rao rất hữu ích để đo:

  • kỳ vọng của người bán;
  • tâm lý thị trường;
  • hàng tồn sẵn bán;
  • định vị giá;
  • tốc độ điều chỉnh giá.

Nó chỉ không được gọi nhầm là giá giao dịch.

14. Giá giao dịch hữu ích nhưng cũng có hạn chế

giao dịch dữ liệu có thể:

  • công bố chậm;
  • ít observations;
  • không đủ attributes;
  • không phản ánh hàng tồn đang cạnh tranh.

Vì vậy người phân tích thường cần cả giá chào bán và giao dịch.

15. Khi thị trường đổi chiều, giá chào bán có thể phản ứng chậm

người bán có thể giữ kỳ vọng cũ.

Khi đó ta có thể thấy:

  • giá chào bán đi ngang;
  • giao dịch giảm;
  • chênh lệch mở rộng;
  • khối lượng giao dịch giảm.

Đây là dấu hiệu quá trình xác lập giá chưa hoàn tất.

16. Khi thị trường nóng, giao dịch có thể vượt giá rao

Nếu nhiều người mua cạnh tranh:

  • bid vượt giá chào bán;
  • tỷ lệ giá bán so với giá niêm yết >100%.

Do đó “giá rao luôn cao hơn giá giao dịch” là sai.

17. Giá trong hợp đồng cũng cần hiểu bối cảnh

Nếu dữ liệu pháp lý/tài chính có động cơ khai báo khác nhau hoặc gói điều kiện có thành phần ngoài giá tài sản, người phân tích cần:

  • kiểm tra dữ liệu provenance;
  • không mặc định mọi trường “giá” đều đồng nhất.

18. Ví dụ một timeline giá

Dữ liệu giả lập phục vụ minh họa.

NgàyTrạng tháiGiá
01/01Rao lần đầu6,5 tỷ
01/02Giảm giá6,2 tỷ
15/02đề nghị mua5,7 tỷ
18/02Agreed5,9 tỷ
15/03Giao dịch hoàn tất5,9 tỷ

Câu “giá căn này là 6,5 tỷ” chỉ đúng nếu nói rõ đó là giá chào bán ban đầu.

19. Quy tắc đặt tên cột dữ liệu

Ưu tiên:

  • asking_price_initial;
  • asking_price_latest;
  • offer_price;
  • agreed_price;
  • transaction_price;
  • transaction_date;
  • price_source.

Không dùng một cột mơ hồ tên gia.

20. Bài tiếp theo: một loại “giá” hoàn toàn khác bản chất

Ngoài giá hình thành trong giao dịch thị trường, hệ thống quản lý đất đai còn có:

  • bảng giá đất;
  • giá đất cụ thể

theo pháp luật.

Chúng không nên được hiểu là một bản sao của giá chào bán/giá giao dịch.

Ghi nhớ trong 30 giây

  1. giá chào bán là kỳ vọng/chào bán, không phải giao dịch.
  2. đề nghị mua chưa phải giá đã thỏa thuận; giá đã thỏa thuận chưa chắc giao dịch hoàn tất.
  3. giá giao dịch phải gắn với định nghĩa trạng thái và nguồn dữ liệu.
  4. tỷ lệ giá bán so với giá niêm yết phụ thuộc dùng ban đầu hay final giá chào bán.
  5. tin đăng duplicates và stale các tin đăng có thể làm sai nghiêm trọng dữ liệu giá rao.

Nguồn tham khảo

  • Nguyễn Mạnh Hùng, Bài giảng Chương 5 – Giá bất động sản.
  • Mourouzi-Sivitanidou & Sivitanides, Market Analysis for Real Estate, Routledge.
  • Các chuẩn dữ liệu giao dịch BĐS quốc tế về listing/sale history, tham khảo về thuật ngữ và data provenance.

Bài tiếp theo: “Giá Nhà nước và giá thị trường khác nhau thế nào?”.

📚 Xem toàn bộ 33 bài trong series Thị trường BĐS