Bài 9 · Pháp lý BĐS

Quyền sử dụng đất là gì và khác quyền sở hữu tài sản như thế nào?

Trong giao tiếp hằng ngày, người ta thường nói “mua đất”, “sở hữu miếng đất”, “đất của tôi”. Những cách nói này dễ hiểu trong đời sống nhưng nếu đem nguyên vào bài phân tích pháp lý sẽ gây nhầm lẫn. Pháp luật Việt Nam xây dựng chế độ sở hữu toàn dân về đất đai; Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, còn cá nhân, tổ chức và các chủ thể khác được Nhà nước xác lập hoặc công nhận quyền sử dụng đất theo những căn cứ và phạm vi luật định. Vì vậy, phải phân biệt quyền sử dụng đất với quyền sở hữu một tài sản như nhà, công trình hoặc động sản.

Biên soạn: ThS. Nguyễn Mạnh Hùng
Đơn vị: GV. Khoa QLĐĐ&BĐS – ĐH Nông Lâm TP.HCM
Email: nguyenmanhhung@hcmuaf.edu.vn

Cập nhật 29/09/2026: Bài viết phục vụ học tập và giảng dạy. Khi xử lý một hồ sơ cụ thể, cần kiểm tra lại văn bản đang có hiệu lực, văn bản sửa đổi, quy định chuyển tiếp, dữ liệu của cơ quan có thẩm quyền và quy định của địa phương tại thời điểm thực hiện; nội dung bài không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý cho một vụ việc cụ thể.

1. Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, người sử dụng đất có quyền sử dụng đất

Bộ luật Dân sự và pháp luật đất đai cùng thể hiện nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Luật Đất đai xác định Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo các hình thức và căn cứ mà pháp luật quy định. Vì vậy, khi một cá nhân nhận chuyển nhượng nhà đất, điều họ nhận đối với phần đất về mặt pháp lý là quyền sử dụng đất, không phải quyền sở hữu tư nhân đối với bản thân đất đai.

Điều này không có nghĩa quyền sử dụng đất “không có giá trị” hoặc “chỉ là quyền ở nhờ”. Bộ luật Dân sự xếp quyền sử dụng đất trong nhóm quyền tài sản; quyền này có thể có giá trị rất lớn và trong nhiều trường hợp người sử dụng đất được chuyển nhượng, cho thuê, tặng cho, thừa kế, thế chấp, góp vốn... khi đáp ứng điều kiện luật định.

2. Quyền sở hữu tài sản có cấu trúc khác

Bộ luật Dân sự quy định quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo pháp luật. Với một căn nhà thuộc sở hữu hợp pháp, chủ sở hữu có quyền chiếm hữu, khai thác công dụng và định đoạt trong giới hạn pháp luật. Với đất đai, cá nhân không đứng ở vị trí “chủ sở hữu đất”; họ là người sử dụng đất và thực hiện các quyền cụ thể do chế độ pháp lý của đất cho phép.

Tiêu chíQuyền sử dụng đấtQuyền sở hữu tài sản
Đối tượngQuyền đối với đất được Nhà nước trao/công nhận theo pháp luật đất đai.Tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ sở hữu, ví dụ nhà/công trình khi đủ căn cứ.
Nền tảng pháp lýChế độ sở hữu toàn dân về đất đai; Luật Đất đai quy định chủ thể, hình thức sử dụng và phạm vi quyền.Bộ luật Dân sự và luật chuyên ngành quy định quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt.
Phạm vi thực hiệnPhụ thuộc loại đất, thời hạn, nguồn gốc/hình thức sử dụng, chủ thể và điều kiện thực hiện quyền.Chủ sở hữu được thực hiện quyền trong giới hạn pháp luật và quyền của người khác.
Cách nói chuẩn trong giao dịch“Chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.“Mua bán/chuyển quyền sở hữu nhà, tài sản” tùy loại tài sản và luật áp dụng.

3. Một bất động sản có thể chứa hai loại quyền cùng lúc

Ví dụ quen thuộc là nhà ở gắn liền với đất. Người có quyền có thể đồng thời có quyền sử dụng đất đối với thửa đất và quyền sở hữu nhà ở đối với căn nhà. Giấy chứng nhận hiện hành có tên gọi “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất”, thể hiện rõ hai lớp quyền này có thể cùng được xác nhận trong một chứng thư.

Chính vì có hai lớp quyền, một giao dịch phải đọc cả hai. Nếu Giấy chứng nhận chỉ xác nhận quyền sử dụng đất mà chưa thể hiện nhà/công trình, người kiểm tra phải tìm hiểu tình trạng pháp lý của tài sản đang tồn tại. Nếu nhà thuộc người khác trên đất của người sử dụng đất trong một cấu trúc pháp lý đặc biệt, lại càng không thể dùng một khái niệm “sở hữu nhà đất” để che lấp sự khác nhau.

4. Vì sao quyền sử dụng đất có giá trị kinh tế rất lớn?

Luật Đất đai định nghĩa giá trị quyền sử dụng đất theo giá trị bằng tiền của quyền sử dụng đất đối với diện tích, loại đất, thời điểm và thời hạn được xác định. Quyền sử dụng đất có thể tham gia giao dịch và bảo đảm nghĩa vụ trong phạm vi pháp luật cho phép. Do đó, trong kinh tế bất động sản, phần giá trị gắn với vị trí, khả năng sử dụng và quyền khai thác đất thường là thành phần rất lớn của tổng giá trị tài sản.

Tuy vậy, giá trị kinh tế cao không biến quyền sử dụng đất thành quyền sở hữu đất tư nhân. Đây là chỗ sinh viên phải tách giá trị kinh tế khỏi cấu trúc pháp lý.

5. Không phải mọi người sử dụng đất đều có cùng một “gói quyền”

Phạm vi quyền phụ thuộc nhiều yếu tố: chủ thể là ai; đất được Nhà nước giao, cho thuê hay công nhận; có thu tiền hay không; tiền thuê đất trả hằng năm hay một lần; loại đất; thời hạn; nguồn gốc nhận quyền; điều kiện riêng của luật chuyên ngành. Vì vậy, nhìn thấy hai Giấy chứng nhận không có nghĩa chủ thể trên hai giấy được thực hiện mọi giao dịch giống hệt nhau.

Đây là lý do khi thẩm tra không thể chỉ ghi “có quyền sử dụng đất”. Phải ghi rõ quyền sử dụng đất nào, đối với loại đất nào, trong thời hạn nào, theo hình thức sử dụng nào và chủ thể nào đang có quyền.

6. “Mua đất” trong đời sống nên dịch thành gì trong hồ sơ pháp lý?

Trong đa số giao dịch dân sự phổ biến giữa các cá nhân đủ điều kiện, cách nói “mua đất” được chuyển thành nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Nếu có nhà gắn liền và nhà cũng được chuyển giao thì giao dịch còn liên quan đến quyền sở hữu nhà. Cách dùng từ chuẩn giúp người học xác định đúng điều luật: điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất không hoàn toàn trùng với điều kiện giao dịch nhà ở.

Cách nói đời thườngCách phân tích pháp lý nên dùng
“Tôi sở hữu lô đất này.”Xác định người này có quyền sử dụng đất gì, được Nhà nước ghi nhận trên căn cứ nào.
“Mua nhà đất.”Tách: nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất + nhận chuyển quyền sở hữu nhà/tài sản nếu có.
“Sổ đứng tên tôi nên tôi muốn làm gì cũng được.”Kiểm tra phạm vi quyền, chủ thể đồng quyền/tài sản chung, mục đích, thời hạn, hạn chế và điều kiện thực hiện giao dịch.
“Đất thuê của Nhà nước vẫn là đất của doanh nghiệp.”Phân tích hình thức thuê, phương thức trả tiền và quyền tương ứng; không dùng từ “sở hữu đất”.

7. Quyền sử dụng đất không đồng nghĩa quyền sử dụng tùy ý

Người sử dụng đất phải sử dụng đúng mục đích và tuân thủ các nghĩa vụ, hạn chế theo pháp luật. Nếu Giấy chứng nhận ghi đất trồng cây lâu năm, việc chủ thể có quyền sử dụng đất không tự tạo quyền xây nhà ở hợp pháp trên toàn bộ phần đất đó. Muốn thay đổi mục đích trong trường hợp pháp luật yêu cầu phải được phép, phải thực hiện đúng thủ tục và điều kiện liên quan.

Đây là mối nối trực tiếp sang Bài 10. Muốn hiểu “quyền sử dụng đất” trong một hồ sơ, không thể bỏ qua dòng mục đích sử dụng đất.

8. Giấy chứng nhận xác nhận quyền chứ không phải “tờ sở hữu đất”

Luật Đất đai xác định Giấy chứng nhận là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền. Cách định nghĩa này rất quan trọng: giấy không biến đất thành tài sản thuộc sở hữu tư nhân của người đứng tên; giấy xác nhận loại quyền mà pháp luật công nhận.

Vì vậy khi đọc Giấy chứng nhận, nên nói “người sử dụng đất”, “chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất” theo từng mục, thay vì gộp thành “chủ đất” rồi suy ra mọi quyền.

9. Tình huống thực hành: một thửa đất, một căn nhà, hai câu hỏi quyền

Giả định phục vụ giảng dạy: Giấy chứng nhận ghi cá nhân A là người sử dụng 120 m² đất ở và đồng thời ghi nhận căn nhà 2 tầng. Người mua B muốn mua toàn bộ. Khi phân tích, sinh viên tách hai câu: (1) A có quyền sử dụng đất đối với 120 m² với mục đích/thời hạn/hình thức như giấy ghi; (2) A có quyền sở hữu đối với căn nhà theo thông tin được chứng nhận. Sau đó mới chuyển sang câu hỏi giao dịch: A có đầy đủ quyền định đoạt không, có yếu tố tài sản chung hoặc hạn chế nào không, giao dịch phải thực hiện theo hình thức/thủ tục nào.

Chỉ một thay đổi nhỏ trong dữ kiện cũng làm hướng kiểm tra khác: nếu căn nhà không được ghi nhận trên giấy, hoặc một phần đất là đất nông nghiệp, hoặc quyền sử dụng đất có thời hạn, danh mục kiểm tra sẽ mở thêm nhánh.

10. Ghi nhớ trong 30 giây

Ở Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân; Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Cá nhân, tổ chức có quyền sử dụng đất theo căn cứ và phạm vi pháp luật quy định. Nhà/công trình có thể là tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể. Một bất động sản có thể đồng thời chứa quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất. Vì vậy, “mua đất” về pháp lý thường là nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, không phải mua quyền sở hữu tư nhân đối với bản thân đất đai.

11. Nguồn tham khảo

  • Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13, đặc biệt quy định về tài sản, quyền tài sản, quyền sở hữu và tài sản thuộc sở hữu toàn dân.
  • Luật Đất đai số 31/2024/QH15 và các văn bản sửa đổi, bổ sung, đặc biệt các khái niệm về Giấy chứng nhận, giá trị quyền sử dụng đất và quyền, nghĩa vụ người sử dụng đất.
  • Thông tư số 10/2024/TT-BTNMT về hồ sơ địa chính và Giấy chứng nhận.
  • Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Đất đai, nội dung về chế độ sở hữu toàn dân và địa vị pháp lý của người sử dụng đất.
  • Chambers and Partners, Real Estate 2026 – Vietnam, phần phân loại quyền đối với bất động sản tại Việt Nam, dùng để tham khảo cách giải thích cho giao dịch thực tế.

Bài tiếp theo: “Đọc mục đích sử dụng đất trên Giấy chứng nhận để biết được điều gì?” – từ khái niệm quyền sử dụng đất chuyển sang một thuộc tính quyết định phạm vi sử dụng và nhiều rủi ro giao dịch.

📚 Xem toàn bộ 13 bài trong series Pháp lý BĐS